Thành phần khoáng vật chủ yếu củachì bị oxy hóa- Quặng kẽm bao gồm cerussit và Anglesite là các khoáng vật thứ cấp được hình thành dần dần từ các khoáng vật nguyên sinh trong điều kiện oxy hóa. Quặng chì-kẽm bị oxy hóa thường liên kết với pyrit, siderit, v.v., tạo thành các trầm tích như limonit. Quặng chì-kẽm bị oxy hóa có phạm vi phân bố rộng, do có nguồn gốc khác nhau nên thường hình thành các mỏ quặng giàu ở dạng cặn và trầm tích colluvial.
Các khoáng chất cấu thành chính của quặng chì-kẽm sunfua bao gồm galena và sphalerit, là những khoáng chất chính. Quặng chì-kẽm sunfua thường liên kết với pyrit, chalcopyrit, v.v., tạo thành quặng đa kim. Trữ lượng và sự phân bố của quặng chì-kẽm sunfua lớn hơn nhiều so với quặng chì-kẽm bị oxy hóa; do đó, hầu hết kim loại chì và kẽm đều được chiết xuất từ quặng sunfua.
Đặc điểm của điều nàyChì bị oxy hóa-Quặng kẽm là chì và kẽm trong đó đã kết hợp với oxy, giống như rỉ sét. Để giải quyết chúng ta thường sử dụng hai phương pháp:
Phương pháp khử: Như tên cho thấy, phương pháp này liên quan đến việc "lấy đi" oxy, biến các oxit trở lại thành kim loại nguyên chất.
Phương pháp lọc bằng axit: Phương pháp này bao gồm việc hòa tan nó bằng axit, biến nó thành chất lỏng và sau đó tách các kim loại cần thiết ra khỏi chất lỏng.
Cả hai phương pháp này đều rất hiệu quả trong việc “khử” oxit thành kim loại hoặc hòa tan chúng trong axit để xử lý tiếp.
Trong quặng này, chì và kẽm được kết hợp với lưu huỳnh. Để tinh chỉnh nó, chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phương pháp chính:
Pyrometallurgy (rang nhiệt độ cao): Điều này đòi hỏi nhiệt độ cực cao. Thông qua các phản ứng hóa học ở nhiệt độ cao, sunfua được chuyển thành các nguyên tố kim loại. Bạn có thể tưởng tượng nó như là "rang ở nhiệt độ cao", đốt cháy lưu huỳnh.
Thủy luyện kim (hòa tan bằng axit): Phương pháp này hơi giống với phương pháp lọc bằng axit ở trên, cũng sử dụng các phương pháp hóa học như hòa tan bằng axit để tách kim loại ra khỏi quặng.